Thừa nhận người bản địa ở Việt Nam là ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội

Ngày 13 tháng 9 năm 2007, Đại hội đồng của Tổ chức Liên Hiệp Quốc đã thông qua Tuyên ngôn Liên Hiệp Quốc về quyền người bản địa và người thiểu số, trong đó quy định và phân biệt rõ định nghĩa «người bản địa» và «dân tộc thiểu số» cũng như tuyên bố về quyền lợi chính đáng của các nhóm người này. Việt Nam với vai trò là một quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc đã ký thừa nhận bản Tuyên ngôn này. Từ ngày ký đến nay, chính phủ Việt Nam chưa thực thi bất kỳ một điều khoản nào trong bản Tuyên ngôn ấy với lý do «Việt Nam không có người bản địa.» 

Trong các Hội nghị, diễn đàn quốc tế, các tổ chức đại diện cho người bản địa, đơn cử như Hội đồng các dân tộc bản địa của Việt Nam ngày nay (Council of Indigoes People of Today’s Vietnam) đã nhiều lần yêu cầu chính phủ Việt Nam công nhận quyền là người bản địa của các dân tộc Khmer Krom, Cham, các sắc tộc thuộc nhóm Montagnards, … tuy nhiên phía Hà Nội luôn viện dẫn các lý do như: «định nghĩa người bản địa ở Việt Nam khác với định nghĩa của Liên Hiệp Quốc» , «trong tiếng Việt không có từ để gọi người bản địa», … để phủ nhận vấn đề tồn tại người bản địa ở trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay.



Tại sao Việt Nam dùng mọi luận điệu và phương pháp nhằm phủ nhận sự tồn tại người bản địa, và gắng ghép, đánh đồng người bản địa (người bản xứ) ở nước này là «người dân tộc thiểu số» ?

Thời gian vừa qua, trong các văn kiện, hồ sơ về đường lối, chánh sách của đảng cộng sản Việt Nam và của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn đề cập đến vấn đề «các thế lực thù địch âm mưu thành lập quốc gia, chia cắt đất nước Việt Nam.» Phải chăng đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam lo ngại rằng sau khi chính phủ thừa nhận người bản địa, các dân tộc bản địa sẽ đứng lên đòi độc lập, tự thành lập các quốc gia tự trị tách ra khỏi Việt Nam như: Công quốc Monaco ở Châu Âu, Timo Lest ở Đông Nam Á, Nam Sudan ở Châu Phi?

Chúng ta thừa nhận rằng theo tinh thần Tuyên ngôn Liên Hiệp Quốc về Quyền người bản địa thì người bản địa sẽ nhận được rất nhiều quyền lợi về kinh tế, văn hóa, giáo dục, chính trị và xã hội. Tuy nhiên các đặc quyền mà người bản địa có được là hoàn toàn hợp lý nếu xét về mặt xã hội, lịch sử và nhân đạo.

Trên trên toàn thế giới, và ở Việt Nam cũng thế, tổ tiên của những người bản địa có công khai phá đất tai, kiến tạo các giá trị để con người có thể sống và phát triển được, xét về tình, về lý thì những người bản địa phải được tôn trọng và phát huy các quyền mang tính kế thừa của các dân tộc bản địa xuất phát từ những thiết chế chính trị, kinh tế và xã hội của họ, và từ những truyền thống văn hóa, tinh thần, lịch sử và triết lý của họ, đặc biệt là từ các quyền của họ đối với đất đai, lãnh thổ và tài nguyên,. Trong tiến trình lịch sử, các dân tộc bản địa đã chịu sự bất công, những đà áp và giết hại, trong đó đặc biệt là quá trình thuộc địa hóa và chiếm hữu đất đai, lãnh thổ và tài nguyên của họ, các quyền này được thiết lập nhằm ngăn chăn không để lịch sử tái diễn.

Tuy vậy các các của người bản địa, các quyền đã được Tổ chức Liên Hiệp Quốc nghiên cứu kỹ lưỡng và có khoa học, không hề  đe dọa đến Thống nhứt và Toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam cũng như vai trò lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam hay bất kỳ một chánh đảng nào lãnh đạo đất nước Việt Nam.

Cụ thể trong bản Tuyên ngôn và trên thực tế áp dụng ở các quốc gia đã thừa nhận và thực thi quyền người bản địa thì các quyền của người bản địa chỉ thực hiện được khi mà Nhà nước đóng vai trò là người điều khiển và hoạch định chính sách. Như vậy việc thực hiện các điều khoản của bản Tuyên ngôn này không hề làm suy yếu quyền quản lý, lãnh đạo của nhà nước đối với các cộng đồng dân tộc bản địa ở Việt Nam.

Hơn nữa tại khoản 1 điều 46 của Tuyên ngôn Liên Hiệp Quốc về Quyền người bản địa khẳng định rằng: « Không một điểm nào trong Tuyên ngôn này được giải thích để hàm ý cho bất kỳ nhà nước, dân tộc, nhóm người hay người nào có quyền tham gia vào bất kỳ hoạt động nào hoặc thực hiện bất kỳ hành vi nào trái với Hiến chương Liên Hợp Quốc hoặc được giải thích để ủy quyền hay khuyến khích bất kỳ hành vi nào làm chia cắt hay suy yếu toàn bộ hay một phần sự thống nhất về lãnh thổ hay đoàn kết về chính trị của các nhà nước độc lập và có chủ quyền.»

Điều này một lần nữa khẳng định rằng việc thừa nhận người bản địa ở Việt Nam và thực thi các điều khoản tôn trọng quyền người bản địa không hề ảnh hưởng đến toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.  

Nếu Việt Nam lo ngại rằng việc thừa nhận vị thế của các dân tộc bản địa ở Việt Nam ảnh hưởng đến toàn vẹn lãnh thổ quốc gia là một việc hết sức dư thừa bởi xu thế chung của nhân loại hòa nhập. Ngày nay các quốc gia và dân tộc đang hướng đến mục tiêu thống nhất toàn cầu để phát triển kinh tế, văn hóa, đưa nhân loại lên tầm cao mới. Như vậy, mọi ý tưởng chia cắt quốc gia để thành lập quốc gia mới là ý tưởng bị nhân loại lên án.

Nếu có bất kỳ một dân tộc bản địa nào ở Việt Nam mang vấn đề thành lập quốc gia mới đệ trình lên Liên Hiệp Quốc thì lập tức yêu cầu đó bị bác bỏ và tổ chức của người bản địa đặt ra vấn đề đó chắn chắn sẽ bị chú ý là các phần tử thiếu tiện bộ. Bởi xét về lịch sử, các quốc gia hiện là cường quốc và là trụ cột của Liên Hiệp Quốc gồm Huê Kỳ, Nga, Trung Quốc, Đức, Pháp, … đều là các quốc gia cấu thành từ các tiểu quốc trong quá khứ. Nếu Liên Hiệp Quốc đồng ý cho bất kỳ một dân tộc nào ở Việt Nam thành lập quốc gia riêng của mình thì chắc chắn toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia cường quốc này sẽ bị đe dọa, và tất nhiên không quốc gia nào trên thế giới ủng hộ yêu cầu nay.

Như vậy thì Việt Nam công nhận vấn đề người bản địa sẽ không cần phải quan ngại về vấn đề các dân tộc bản địa có thể giành độc lập, hay toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam bị xâm hại. Không những thế, việc thừa nhận và thực hiện các vấn đề người bản địa ở Việt Nam sẽ góp phần phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Bởi một xã hội phát triển khi các cá thể của xã hội phát triển, cũng như vậy Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia giàu mạnh khi mà các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam phát triển toàn diện về kinh tế, văn hóa, giáo dục và xã hội. Việc thừa nhận và ban hành – áp dụng các chánh sách thực thi các vấn đề người bản địa ở Việt Nam góp phần tạo điều kiện và là biện pháp duy nhất làm cho các dân tộc bản địa ở Việt Nam phát triển toàn điện nhất.

Tuy vậy, nếu Việt Nam vẫn áp dụng các chánh sách và duy trì các động thái phủ nhận vấn dề người bản địa ở Việt Nam thì Việt Nam phải chịu nhiều tổn thất nặng nề đơn cử như:

Việt Nam phải chịu uy tín trên trường quốc tế. Thực tế, trong hơn 10 năm gần đây, trên các diễn đàn quốc tế về lĩnh vực nhân quyền và người bản địa, các tổ chức của người bản địa sống trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay luôn mang vấn đề người của họ trình bày. Trên các diễn đàn này, úy tin của Việt nam bị giảm sút nghiêm trọng. Đặc biệt, trong mấy năm gần đây, lãnh đạo nhiều nước và đại diện quốc gia tiến bộ trên thế giới công khai nhận xét rằng «Việt Nam là một quốc gia thiếu thiện chí hợp tác, và là quốc gia ký các điều khoản quốc tế để chứng tỏ mình là quốc gia tích cực chứ không hề có thiện chí thực thi.» Như vậy, uy tín và giá trị của Việt Nam trên trường quốc tế bị suy giảm năng nề. Sự suy giảm uy tín này không phải do các tổ chức của người bản địa gây ra cho Việt Nam mà chính do Việt Nam tự phá hoại hình ảnh của mình trên trường quốc tế, bởi, trong xu thế toàn cần hóa như hiện nay, không có hành động nào của Việt Nam có thể che dấu được dư luận thế giới.

Phủ nhận vấn đề người bản địa ở Việt Nam làm tăng nguy cơ bất ổn chánh trị - xã hội ở Việt Nam. Chúng ta phải thừa nhận rằng những gì mà người bản địa nhận được chưa đáp ứng được yêu cần thực tế. Có thể chính quyền Việt Nam thiếu cập nhật hoặc lầm tưởng rằng cộng đồng các dân tộc bản địa còn chậm tiến, ít hiểu biết, có nhu cầu về quyền lợi chính đáng còn hạn chế.

Tuy nhiên, thế giới luôn vận động và xã hội, tri thức các dân tộc bản địa luôn phát triển. Nhu cầu về việc sử dụng tối đa quyền lợi chánh đáng của họ là có và tất yêu các cá nhân này phải phấn đấu, và thậm chí là đấu tranh để được hưởng các quyền lợi hợp pháp đó.

Không những thế, các cấp lãnh lạo, những người soạn thảo chánh sách của Việt Nam cũng nhận thấy rằng, hiện nay rất nhiều tổ chức có liên quan đến người bản địa ở Việt Nam đang có xu hướng sử dụng bạo lực để giải quyết các vấn đề phát sinh do chính sách đối vớ người bản địa không đúng đắn của chính quyền Việt Nam. Những chính sách sai lầm của chính quyền Hà Nội hiện có nếu không sửa đổi hoặc tạo thêm nhiều sai lầm mới là những tác nhân châm ngòi cho bất ổn xã hội, thậm chí là các bất ổn bạo lực liên quan đến người bản địa ở Việt Nam.

Như vậy, cách giải quyết duy nhất các vấn đề đang phát sinh và để ngăn chặn cá bất ổn chính trị - xã hội liên quan đến người bản địa ở Việt nam cũng như để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị ở Việt Nam, chính quyền và những người hoạch định chính sách của Việt Nam phải nghiêm túc nhìn nhận vấn đề người bản địa. Với thiện chí hợp tác, cùng tiến bộ, chính quyền Việt Nam phải thừa nhận sự tồn tại của người bản địa tại Việt Nam, song song với đó tiến hành đàm phán với các tổ chức đại diện người bản địa hiện đang sống ở Việt Nam dưới sự tư vấn giám sát của các cơ chế về quyền người bản địa của Liên Hiệp Quốc nghiên cứu ban hành các chính sách dành cho người bản địa theo đúng tin thần của Tuyên ngôn Liên Hiệp Quốc về Quyền người bản địa.


Share this:

, ,

CONVERSATION

0 comments:

Post a Comment